
Cố Giáo sư nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học về đàn đá Việt Nam, đã từng ao ước: “Chỉ khi nào ta khai quật được đàn đá trong những điều kiện thật bảo đảm về mặt khoa học, và tới lúc nào ta gặp được những bộ đàn đá toàn vẹn ở vị trí không bị xáo trộn thì bấy giờ ta mới có đủ căn cứ để định niên đại chính xác và mới dựng lại được một cách hoàn chỉnh thang âm cơ bản của đàn đá”. Nhờ đàn đá Bình Đa mà chúng ta có thể xác định niên đại của một thời kỳ lịch sử vốn thịnh hành loại nhạc cụ này. Và cũng do đàn đá Tuy An mà chúng ta có thể bắt đầu giải đáp được ẩn số của một trong những thang âm cơ bản mà người xưa đã sử dụng.
- Giáo sư Nhạc sĩ Tô Vũ mạnh dạn đề xuất danh từ “tiền cổ đại” để gọi thang âm đàn đá Tuy An. Nếu như thang âm cổ đại được xác lập vào khoảng các thế kỷ IV và V trước công nguyên thì giai đoạn tiền cổ đại trong âm nhạc thuộc vào vài thế kỷ trước đó. Sự trùng hợp về thời điểm lịch sử được giả định của đàn đá Tuy An, giữa khảo cổ học, địa chất học và âm nhạc học được Hội đồng khoa học nhất trí hoàn toàn.
- Bộ đàn đá Tuy An thuộc loại thang âm điệu thức gần với các loại thang âm dân tộc khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Tầm cữ của thang âm này thích hợp với tầm cữ của một giọng hát thông thường.
- Theo nhận định của Giáo sư Nhạc sĩ Tô Vũ thì hai thanh đàn (I) và (II) ứng với hai thanh cuối (VI) và (VIII) theo quan hệ quãng 8. Nhưng vì quan hệ giữa hai bậc II-VIII đặc biệt chuẩn xác hơn, nên có thể xem bậc II là bậc cơ sở của điệu thức chính và bậc I là chủ âm của điệu thức phụ”.
Nhạc sĩ Ngô Đông Hải lại cho rằng thang âm đàn đá Tuy An rất trùng hợp với điệu thức II (tức điệu nam rất phổ biến trong dân ca của người Việt ở đồng bằng Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ).
Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ lại bổ sung: Trong lòng thang âm bộ đàn đá Tuy An hình như còn chứa các dạng của thang 3 âm, thang 4 âm và thang 5 âm (rộng và hẹp). Nếu như:
- Điệu thức II (Nam) thì không sử dụng thanh số VII.
- Điệu thức I (Bắc) thì không sử dụng thanh số II và số VIII.
- Điệu thức III (Xuân) thì không sử dụng thanh số VII (thanh số I và II có quan hệ quãng 8 với thanh số VI và VIII).
- Điệu thức IV (oán biến thế hẹp) thì không sử dụng thanh số III (trong trường hợp này, thanh số I và II thường ít xuất hiện).
- Quan sát kỹ toàn bộ thang âm, dường như có sự kết hợp giữa hai điệu thức: Đô II (Nam) với sol IV (oán).
Có thể vì lẽ đó mà đàn đá Tuy An như vô tình có khả năng diễn tấu một số bài dân ca, dân nhạc của một vài tộc người đã từng cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra nó còn có thể phối hợp với các loại nhạc cụ khác trình diễn một vài ca khúc hiện đại.
Thạc sĩ NGUYỄN HOÀI SƠN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét